Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Lịch sử Giáo xứ An Khê


LỊCH SỬ GIÁO XỨ AN KHÊ
GIÁO HẠT AN KHÊ – GIÁO PHẬN KONTUM
Trải qua sóng dập gió dồi
50 năm vững giữa trời An Khê
Kitô Chiến Thắng chở che
Qua bao đạn lửa, nắng hè mưa đông
50 năm, giáo xứ con
Vẫn luôn tín thác, sắc son với Người
Dâng lên Chúa, đoá hoa tươi
Tạ ơn Thiên Chúa đã mời gọi con
Cùng con qua những lối mòn
50 năm ấy vuông tròn Thánh ân”
Năm 2012, Linh mục chánh xứ và bà con giáo dân An Khê kỷ niệm 50 năm thành lập giáo xứ trong niềm hân hoan. Để có được một xứ đạo phát triển như ngày nay, An Khê đã trải qua rất nhiều thăng trầm, thay đổi và có cả sự hi sinh to lớn của bà con giáo dân cũng như các linh mục đã và đang sinh sống tại nơi đây.
I.                   VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA DANH AN KHÊ
Thị xã An Khê thuộc tỉnh Gia Lai, nằm trên quốc lộ 19, cách Tp. Pleiku 90km, cách Tp. Quy Nhơn 79km. An Khê là một thung lững nằm giữa đèo An Khê (giáp huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) và đèo Mang Yang (giáp huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai). Thị xã An Khê phía đông giáp tỉnh Bình Định, phía tây và nam giáp huyện Đắk Pơ, phía bắc giáp huyện K'Bang và tỉnh Bình Định.
An Khê thời xa xưa thuộc tỉnh Bình Định. Thời nhà Nguyễn, An Khê là ấp An Tây, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định. Đến thời Pháp thuộc, An Khê thuộc tỉnh Gia Lai, được gọi là huyện Haut Dakpa, sau đổi là huyện An Khê. Ngày 13 tháng 3 năm 1959, An Khê đổi thành huyện An Túc, tỉnh Bình Định. Sau năm 1975 lấy lại tên cũ là An Khê, trực thuộc tỉnh Gia Lai. Nay huyện An Khê đổi thành huyện Đakpơ và thị trấn An Khê được nâng lên thành thị xã An Khê.
An Khê thời xa xưa là vùng núi non hiểm trở nên nó đã trở thành nơi ghi dấu bước chân đầu tiên của các vị Thừa sai trong hành trình đưa Tin Mừng lên Tây Nguyên.
II.                SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO XỨ AN KHÊ
2.1.   Những bước chân đầu tiên của các nhà truyền giáo
Trước những thất bại của công cuộc mở đạo ngõ Quảng Nam và Phú Yên, Đức thánh Giám mục Mgr Cuenot (Đức cha Thể) đã thử ngả An Khê, lúc bấy giờ thuộc tỉnh Bình Định. Ngài đã sai một số người trong bổn đạo “lên trưng đất, cất nhà, làm ruộng rẫy trên đèo An Khê, hầu để dễ bề mở đàng lên xứ Babnar”[1]. Sau đó, ngài đã phong chức Phó tế cho thầy năm Nguyễn Do và chọn thầy đi dò xét việc mở đạo cho dân Mường.
Thầy sáu Do giả làm lái buôn, cùng một số người khác lên An Khê để tìm hiểu phong tục tập quán để sau này truyền đạo. Sau bao khó khăn vất vả, thầy cũng đã tìm hiểu được phong tục, tiếng nói nơi đây  và đã về Bình Định trình Đức cha.
Sau một thời gian ngắn nghỉ ngơi, thầy cùng một số thầy khác tiếp tục lên xứ Mọi lần nữa. Tuy nhiên lần này thất bại, Thiên Chúa nhân lành đã cứu các ngài ra khỏi tay Mọi dữ nên các ngài còn giữ được tính mạng mà trở về cùng với Đức cha.Cuối cùng, đức cha biểu các ngài đi ngõ Trạm Gò gần An Khê. Từ đây Tin Mừng được gieo vào vùng Tây Nguyên.
2.2.   Lược sử giáo xứ An Khê
2.2.1.      Giai đoạn khai sáng
An Khê, buổi sơ khai, chỉ có vỏn vẹn vài chục gia đình Công giáo từ miền xuôi lên lập nghiệp. Họ tập trung tại thôn An Tập, nay là thôn An Phong, xã Gia Hội. Đây là vùng rừng núi âm u, dân cư thưa thớt, địa bàn xa xôi hẻo lánh, nên những năm cuối của thập niên 70 thế kỷ XIX, bọn cướp Đốc Tuần Thưởng đã thường xuyên cướp của, đốt nhà, gieo rắc kinh hoàng cho bà con lương, giáo tại nơi đây. Trước sự tàn bạo của bọn cướp này, đồng bào đã rủ nhau chuyển khu vực sinh sống, một số tản cư ra Chợ Đồn (giáo xứ duy nhất ở An Khê thời bấy giờ), một số về An Khê. Trung tâm của họ đạo lúc này thuộc Song An.
Năm 1956, cha Lantrade (cố Lãng) được Tòa giám mục cử về làm cha sở Chợ Đồn thay linh mục Anrê Phan Thanh Văn. Bên cạnh việc lo cho xứ đạo của mình, cha còn coi sóc cả khu vực An Khê, An Phong, An Quý, An Lũy và Đồng Găng. Lần đầu tiên, cha Lãng đã ban Bí tích Thanh tẩy cho khoảng 100 người (người lớn và trẻ em). Từ con số 100 ấy, giáo dân ngày càng tăng thêm, vị linh mục người Pháp nhận thấy cần phải lập một họ đạo mới tại đây, nên ngài đã xin Đức giám mục cử thêm một linh mục phó quản nhiệm Chợ Đồn để ngài có thời gian thực hiện ước nguyện của mình. Năm 1958, Đức Cha cử cha Joan Demorioux (Cố Bắc) về làm cha phó Chợ Đồn.
Năm 1959, niềm ước ao của cố Lãng thành hiện thực. Họ đạo An khê được thành lập với gần 100 gia đình Công giáo do cha Lãng chánh xứ Chợ Đồn kiêm nhiệm. Vì chưa có nhà thờ nên cố Lãng đã mượn nhà ông Bùi Thế Viện (nay thuộc phường Tây Sơn, thị xã An Khê) làm nhà nguyện. Các hoạt động tông đồ như phụng vụ, giáo lý tân tòng đều do Hội LegioMarie Chợ Đồn đảm nhiệm. Thời gian họ đạo được thành lập chưa được một năm thì cố Lãng lâm bệnh nên xin về Pháp điều trị. Ngài qua đời vào ngày 24 tháng 8 năm 1968, hưởng thọ 62 tuổi.
2.2.2.      Giai đoạn hình thành và phát triển

Năm 1958, cha Giuse Maria Nguyễn Đức Ngọc từ Song Mao được đổi về thay cha Lãng, lúc này ngài ở Song An và quy tụ số giáo dân sống rãi rác quanh vùng lại thành một họ nhỏ tại Song An. Họ này trước gọi là Gò Định, sau đổi thành họ Ngọc An, gồm khoảng 40 – 50 gia đình. Cha Ngọc đã cho lập một nhà nguyện cách quốc lộ 19 khoảng 3km. Tuy nhiên tình hình an ninh không ổn định nên ngài đưa số giáo dân từ Song An về gần An Khê. Ngài hăng hái mở rộng việc loan báo Tin Mừng và năng thăm hỏi bà con giáo dân. Ở An Khê, ngài tiếp tục mượn nhà ông An Tôn Bùi Thế Viện làm nhà nguyện để cử hành thánh lễ cũng như ban các phép bí tích.
Trong hai năm 1960 - 1961, linh mục Nguyễn Đức Ngọc cho lập họ Cửu An, trước kia là Trạm Gò và một số địa danh khác. Họ này có khoảng 30 hộ Công giáo. Sau cuộc di tản năm 1963, họ này còn lại một số gia đình. Ngoài ra, ngài còn quy tụ các gia đình Công giáo và lập họ Thủ Thủy, nhưng sau cuộc di tản năm 1963, họ này cũng chỉ còn lại một vài gia đình ít ỏi.
An Khê lúc bấy giờ là khu vực trung tâm nên cha Ngọc đã trình Đức Giám Mục Kontum để xin thành lập Giáo xứ và Ngài đã chấp nhận. Năm 1962, giáo xứ An Khê chính thức được Tòa Giám Mục thừa nhận. Như vậy chỉ trong một thời gian ngắn (1959 – 1962), từ một họ đạo nhỏ, An Khê đã được nâng lên thành giáo xứ với số giáo dân ngày càng tăng.
Năm 1961, cha Ngọc bắt tay vào xây dựng nhà thờ và nhà xứ. Việc xây dựng nhà thờ là một thách thức lớn nhưng Cha Ngọc đã phó thác tất cả vào tay Chúa quan phòng. Góp sức vào công việc xây dựng nhà thờ, nhà xứ này phải kể đến công lao, hy sinh đặc biệt của ông Giuse Lê Văn hội và Phanxico Nguyễn Văn Nhơn. Hai người đã không quản ngại khó khăn, trực tiếp chuyên chở vật liệu, đốc công, thường xuyên bên cha Ngọc để vừa thi công vừa giám sát công trình. Năm 1963, nhà thờ An Khê được khánh thành sau hai năm xây dựng đầy khó khăn. Ban đầu, cha Ngọc và quý ông cộng sự đã chọn tước hiệu Đức Mẹ hồn xác lên trời làm bổn mạng, nhưng vì trong khu vực An Khê có nhà thờ An Sơn đã lấy tước hiệu này, để việc chầu lượt Thánh Thể ở các giáo xứ trong Giáo phận được đều khắp nên cuối cùng ngài đã lấy tước hiệu Chúa Kitô Vua làm bổn mạng. Trải qua bao khó khăn, chiến tranh, ngôi thánh đường vẫn tồn tại cho đến ngày nay (2011). Sau khi thành lập giáo xứ, xây dựng nhà thờ, cha Ngọc đã tổ chức lại các hội đoàn, đưa các sinh hoạt tôn giáo vào quy củ, nề nếp và sôi nôi, hiệu quả. Hoa quả đầu mùa là việc ngài đã rửa tội cho 60 tân tòng, Đức giám mục ban Bí tích Thêm sức cho 116 người.
Năm 1965, hội đồng giáo xứ được thành lập, bao gồm:
-         Câu chánh: Gioan Baobixita Hà Huy Cương
-         Câu phó 1: Giuse Lê Văn Hội (tức Tư Hội)
-         Câu phó 2: Mattheu Mai Linh Phụng
-         Thư ký: Gioan Baobixita Nguyễn Văn Phong
-         Phụ trách Hội đoàn và Khánh tiết: F.X. Nguyễn Văn Nhơn
-         Các ông Biện: Gioakim Nguyễn Văn Hợi và Toma Phạm Văn Thuấn[2]
Các họ đạo như An Lũy, Song An, Cửu An cũng được linh mục chánh xứ (cha Ngọc) cắt cử các thành viên trong ban chức việc trông coi, kinh nguyện.
Trong tình hình chiến tranh loạn lạc, cuối năm 1965, đầu năm 1966, số giáo dân từ miền xuôi lên An Khê lập nghiệp khá đông. Chủ yếu người dân đến từ Mỹ Thạch, Vĩnh Thạnh, Đồng Phó, Kim Châu, Trường Cửu, Đồng Quả, Sông Cạn, Kiên Ngãi, Phú Phong, Gò Bồi (Bình Định) lên làm ăn sinh sống, định cư nhiều nhất ở An Lũy, nên giáo dân đã xin cha cho xây một nhà thờ ở đây. Đến năm 1971, nhà thờ An Lũy hoàn tất. Đây là thành quả của công sức của người dân họ đạo này với sự giúp đỡ về vật liệu của cha Ngọc. Nay nhà thờ họ đạo An Lũy thuộc phường Tây Sơn, thị xã An Khê.
Năm 1968, ngài cho xây dựng trường tư thục Mai Liên (nay là trường THPT Nguyễn Khuyến) và một ngôi nhà ba tầng ở phía trái khuôn viên nhà thờ với dự định làm bệnh viện để giúp đỡ dân nghèo. Ngài cũng thăm dò để mời gọi các dòng tu lên An Khê chung tay làm việc tông đồ nhưng chưa được đáp trả. Có lẽ vì lúc đó An Khê còn hoang sơ, nên chưa đủ thuyết phục công cuộc dấn thân. Cuối cùng chiếc chìa khóa ngôi nhà này được trao cho các nữ tu thuộc dòng thánh Phaolo (tỉnh dòng Đà Nẵng) và ngôi nhà dự trù làm bệnh viện trở thành tu viện. Ngày 16.07.1970, cha Giuse Maria Ngọc chính thức trao chìa khóa ngôi nhà cho các Soeur Phaolo trước sự chứng kiến của hai Mẹ bề trên giám tỉnh: Mẹ Ange và mẹ Rose. Các soeur đã giúp đỡ, cộng tác với cha rất nhiều trong các hoạt động tông đồ, kinh nguyện phụng vụ cũng như về y tế, giáo dục.
Năm 1971, ngài cho xây một dãy nhà dài trong khuôn viên nhà thờ để nuôi các trẻ em mồ côi. Đây là nhà nuôi trẻ mồ côi đầu tiên ở An Khê. Cha đã quy tụ khoảng 50 em cả nam lẫn nữ cùng chung sống chan hòa yêu thương. Ngài cũng cho xây viện Dục Anh để chăm sóc các trẻ em nghèo, tạo điều kiện cho các em học tập. Viện Dục Anh xưa là một tập thể yêu thương với tên gọi “Gia đình Nazareth”. Ngày nay, các thành viên đã trưởng thành, mọi người sống nhiều nơi, nhưng cứ đến ngày giỗ cha Ngọc (22.12), họ lại quy tụ về An Khê để dự lễ cầu nguyện và chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống. Ngoài các công trình trên, ngài còn cho xây dựng nghĩa trang Công giáo tại Đồng Găng.
Trước biến cố mùa xuân 1975, giáo xứ An Khê có 1136 giáo dân, 227 hộ gia đình công giáo (thống kê theo lịch Công giáo của giáo phận Kontum).
2.2.3.      Giáo xứ An Khê sau năm 1975
Sau ngày thống nhất đất nước (30.04.1975), đất nước trở nên khó khăn do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, kèm theo đó là những phức tạp của chính sách thời kì bao cấp khiến cho đời sống người dân khó khăn lại khó khăn hơn, An Khê cũng không ngoại lệ. Ngày 22.12.1977, trước lễ Giáng sinh, trong khi ban bí tích hòa giải cho giáo dân, cha sở Giuse Maria Nguyễn Đức Ngọc đã bị tai biến mạch máu và qua đời, hưởng thọ 68 tuổi. Cha Ngọc ra đi, không một lời dặn dò, từ biệt, trăng trối. Giáo xứ vắng bóng linh mục, con chiên không còn mục tử, đó là một bất hạnh lớn lao của giáo xứ An Khê.
Trước tình hình đó, Đức Giám Mục đã cử cha sở An Sơn Giuse Nguyễn Hữu Quyền kiêm nhiệm, trông coi giáo xứ An Khê. Tuổi cao sức yếu, lại bị cơ chế thời bao cấp hạn chế sự quản lý trong hoạt động tông đồ, nhưng cha Giuse Quyền vẫn cố gắng không để cho giáo dân An Khê khát Thánh lễ. Trong thời gian này Ban chức việc An Khê cũng như các Soeur tu viện Mai Liên gắn bó đầy trách nhiệm với Cha Quyền cho nên các hoạt động đoàn thể, giáo lý…vẫn sốt sắng như thời còn cha sở.
Mong mỏi có một linh mục, Ban Chức Việc giáo xứ liên tục can thiệp với chính quyền và giáo quyền tích cực suốt 5 năm kể từ khi cha Ngọc qua đời. Ngày 12.08.1982, Đức Giám Mục Alexis Phạm Văn Lộc đã cử cha Giuse Đoàn Đức Thiệp (Giám đốc chủng viện Kontum) về quản xứ. Trong thời gian này, giáo xứ khó khăn, nhà xứ còn thiếu thốn, ngay chính đời sống của linh mục cũng đạm bạc nhưng cha Thiệp đã cố gắng tu sửa, cơi nới nhà thờ, mở rộng cánh trái nhà thờ, làm thêm hai gác hai bên đủ để dung nạp số giáo dân ngày càng tăng. Sau Giáng Sinh 1984, cha Thiệp đau nặng. Ngày 06.01.1985, ngài qua đời trong cảnh khó nghèo vì căn bệnh ung thư máu. Một lần nữa, giáo xứ vắng bóng linh mục, đoàn con cái mất cha.
Thời gian An Khê vắng bóng cha sở, Đức Giám Mục đã cử linh mục Anton Vương Đình Tài DCCT từ trung tâm truyền giáo Pleichuet xuống giúp đỡ, hàng tuần vẫn có thánh lễ đều đặn cho cả An Khê lẫn Chợ Đồn.
Ngày 10.10.1988, Linh mục Anton Trần Ứng Tường ở Phú Nhơn được Đức Giám Mục bổ nhiệm về làm chánh xứ An Khê, Chợ Đồn. Ngài đã củng cố và trẻ hóa Ban chức việc, bầu lại Ban chức việc mới. Thời gian này Ban Chức Việc (Ban Phục vụ) và các Seour Phaolo Mai Liên đã tổ chức các hoạt động trong xứ, hoạt động liên xứ An Khê, Chợ Đồn, An Sơn, Đồng Sơn và tham dự các sinh hoạt trong giáo hạt Pleiku và trong giáo phận: Giáo lý, Ca đoàn, Con cái Đức Me, lớp Ơn Gọi, tham dự lớp tập huấn về Thánh nhạc, ca trưởng ở TP.HCM, tạo sự giao lưu học hỏi, thắt chặt mối dây thân ái trong tình yêu Thiên Chúa. Lúc này giáo xứ An Khê bao gồm thị trấn An Khê, xã Phú An , Tân Lập, Bầu Dồn (huyện An Khê), Kanat, KongBla (K’bang) và một số gia đình ở huyện Konchoro với khoảng 2000 giáo dân. Bấy giờ, ông câu chánh là ông Gioan Baobixita Nguyễn Văn Phong.
Năm 1995, cha Tường cho xây dựng tường rào phía trước, cổng chính nhà thờ. Năm 1996, tu sửa lại Hội quán và phòng học giáo lý. Năm 1997 xây dựng ngôi nhà xứ khang trang mà hiện nay vẫn được sử dụng làm Văn phòng giáo xứ. Nhà xứ khánh thành chưa được bao lâu, giáo xứ đang trên đà phát triển thì cha Tường bị tai biến mạch máu não, đột quị trong khi ngài dâng thánh lễ. Hiện nay, ngài vẫn còn đang điều trị và nghỉ hưu tại nhà hưu Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.
Trong thời gian cha Tường bị bệnh, Đức Giám Mục đã cử cha sở An Sơn là linh mục Phero Phaolo Hoàng Văn Quy coi sóc giáo xứ. Số giáo dân An Khê lúc này đã là 2327 với tổng số 510 hộ gia đình. Tuổi cao sức yếu, bệnh tật nhưng ngài vẫn cố gắng coi sóc cả 4 giáo xứ vùng An Khê và một phần huyện K’Bang, Konchoro. Sự nỗ lực ấy đã làm bệnh tình của cha ngày càng nặng thêm. Một thời gian cha phải ngồi để dâng lễ vì hai chân tê dại. Khi không còn cố gắng được nữa, ngài đi chữa bệnh. Và Chúa đã gọi ngài về ngày 08 tháng 5 năm 2003 khi ngài nằm điều trị ở nhà xứ Tiên Sơn. Ngài được an táng tại nghĩa trang Thánh Tâm – Pleiku.
Ngày 10 tháng 6 năm 2001, cha Toma Vũ Khắc Minh được Đức Giám Mục bổ nhiệm về quản xứ An Khê, Chợ Đồn. Trong thời gian quản xứ, cha đã chỉnh đốn lại các hoạt động của giáo xứ, phân công phân nhiệm cho những người phụ trách các hội đoàn. Xây thêm các công trình phụ cho nhà xứ, xây bờ tường quy hoạch đất đai, mua sắm trang thiết bị âm thanh và tổ chức, trực tiếp giảng dạy các lớp tân tòng hôn nhân. Ước ao lớn nhất của ngài là có một ngôi thánh đường khang trang hơn để đủ chỗ cho giáo dân tham dự các nghi thức phụng vụ một cách sốt sắng nên đã vận động giáo dân tích cực tham gia các hình thức tiết kiệm.
Lúc này Ban chức việc cũng được bầu lại, ông Phero Nguyễn Văn Nhân được bầu làm câu chánh, điều hành giáo xứ cho đến nay.
2.2.4.      Một nhiệm kì mới, một trang sử mới
Với nhu cầu mục vụ, hoạt động tông đồ của các linh mục trên bước đường truyền giáo trong giáo phận Kontum, một số linh mục đã được hoán đổi, trong đó có giáo xứ An Khê. Ngày 06.02.2009 tại nhà thờ An Khê, lễ giới thiệu cha xứ mới được tiến hành. Linh mục Giuse Phạm Minh Công về làm chánh xứ thay cho cha Toma Vũ Khắc Minh về quản xứ Trà Đa. Một nhiệm kì mới được bắt đầu…
Ngày 18 tháng 11 năm 2010, giáo xứ đã đặt viên đá đầu tiên để tiến hành xây dựng ngôi Thánh đường mới. Với sự kêu gọi của linh mục chánh xứ, các chương trình tiết kiệm trong giáo dân được tiến hành. Nhiều ân nhân bất kể lương giáo cùng ủng hộ (tinh thần, vật chất) với mong muốn ngôi Thánh đường được sớm hoàn tất. Và ngày 01 tháng 05 năm 2012 ngôi Thánh đường mới, rộng rãi, khang trang được khánh thành trong niềm hân hoan của đông đảo bà con giáo dân của giáo xứ. Ngoài ra, cha còn cho xây dựng các công trình khác như: Đài Đức Mẹ, đồi Hy Vọng, nhà khách…Hiện tại, ngài đang kêu gọi để xây dựng thêm 14 chặng đường thánh giá ngoài trời.
Cha Giuse bầu lại Ban phục vụ. Ông Phero Nguyễn Văn Nhân tiếp tục làm câu chánh. Ngoài ra ngày còn tổ chức lại các hội đoàn như Legio Maria, gia đình Phanxico, Hội các bà mẹ, Hội Lòng thương xót, hội Caritas, Gia đình Ơn gọi…, tổ chức các lớp giáo lý theo bốn khối lớp: Khai tâm, Thánh thể, Thêm sức, Vào đời. Cha còn tổ chức các lớp dạy đàn cho các em thiếu nhi trong giáo xứ nhằm tạo sân chơi bổ ích cho các em, cũng như đào tạo một lớp trẻ có kiến thức âm nhạc vững chắc để phục vụ trong ca đoàn và các dịp lễ. Mỗi ngày, từng chút một, mặc dù tuổi cao, sức khỏe có hạn nhưng cha vẫn cố gắng vận động giáo dân chung tay xây dựng khuôn viên nhà thờ ngày càng đẹp hơn. Nên ước mong của giáo dân hiện nay là có thêm một linh mục phó để giúp ngài trong công việc Mục vụ.
Hiện nay, giáo xứ An Khê có khoảng hơn 3100 giáo dân được chia thành 12 xóm giáo:
-         Xóm giáo Mẹ Thiên Chúa
-         Xóm giáo Mẹ Lộ Đức
-         Xóm giáo thánh Giuse
-         Xóm giáo Phaolo Lê Bảo Tịnh
-         Xóm giáo Matthia
-         Xóm giáo Anton
-         Xóm giáo Giacobe
-         Xóm giáo Daminh
-         Xóm giáo Mattheu
-         Xóm giáo Luca
-         Xóm giáo Anre Dũng Lạc
-         Xóm giáo Gioan Tông đồ
Và một họ đạo nhỏ lẻ (An Lũy) cách nhà thờ An Khê khoảng 3km. Ngoài ra còn khá đông hộ gia đình thuộc huyện K’Bang.
Đời sống đạo của bà con còn chưa cao, chỉ mới tham dự lễ Chúa nhật, còn lễ thường hầu như rất ít. Tuy vậy, mọi người trong giáo xứ luôn cố gắng sống mến Chúa yêu người, làm chứng cho Đức Giêsu trước bà con lương dân.
III.             TỔNG KẾT
Sau 53 năm thành lập họ đạo và 50 năm chính thức công nhận giáo xứ, An Khê có 5 cha sở chính thức:
-         Linh mục Giuse Maria Nguyễn Đức Ngọc
-         Linh mục Giuse Đoàn Đức Thiệp
-         Linh mục Anton Trần Ứng Tường
-         Linh mục Toma Vũ Khắc Minh
-         Linh mục Phạm Minh Công (đương nhiệm)
Và 6 linh mục kiêm nhiệm:
-         Linh mục Lantrade (cố Lãng)
-         Linh mục Giuse Nguyễn Hữu Quyền
-         Linh mục Anton Vương Đình Tài
-         Linh mục Phero Phaolo Hoàng Văn Quy

-         Linh mục Micae Hoàng Đức Oanh (Giám mục đương nhiệm)
-         Linh mục Phero Nguyễn Vân Đông
Qua bao thăng trầm của lịch sử, giáo xứ An Khê có nhiều đổi thay như một quy luật tất yếu, nhưng trong bàn tay quan phòng, trong sự yêu thương của Thiên Chúa, giáo xứ An Khê ngày một thăng tiến và luôn bước đi trong đường lối của Chúa./.
  • Tài liệu tham khảo
  1. P. Ban và S, Thiệt (1933), Mở đaọ Kontum, Imprimerie De Quinhon
  2. Trần Anh Tuấn (2009), Lược sử giáo xứ An Khê, lưu hành nội bộ
  3. vi.wikipedia.org/wiki/An_Khê
  4. Linh mục Nguyễn Hoàng Sơn (2012), An Khê nơi ghi dấu những bước chân đầu tiên của các vị thừa sai, gpkontum.files.wordpress.com/.../an-khe-ghi-dau-buoc-chan-cac-vi-t...
Khánh Tâm




[1]  P.Ban và S. Thiệt (1933), Mở đạo Kontum, Imprmerie de Quinhon, tr.9
[2] Trần An Tuấn (2009), Lược sử giáo xứ An Khê, lưu hành nội bộ

1 nhận xét: